Kiến thức y học

ABC của bệnh tiểu đường

Cập nhật lúc: 4:11:15 CH - 12/11/2018

Bệnh tiểu đường, theo y học còn gọi là bệnh đái tháo đường, là nhóm bệnh lý nội khoa, do rối loạn chuyển hóa cacbohydrat, mỡ và protein khi hoóc môn insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện bằng mức đường trong máu luôn cao.



 

Khi bị bệnh tiểu đường, cơ thể mất đi khả năng sử dụng hoặc sản xuất ra hóc môn insulin một cách thích hợp. Bệnh tiểu đường có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng cho cơ thể, bao gồm cả mắt, thận, thần kinh và tim. Bệnh tiểu đường có thể chia làm 3 loại chính: tiểu đường típ 1, tiểu đường típ 2 và tiểu đường trong thai kỳ.

 

 

A (A1C hay HbA1C) là xét nghiệm huyết cầu tố

 

HbA1C là thuật ngữ dùng để mô tả lượng đường liên kết với Hemolgobin – một loại protein trong tế bào hồng cầu. Chỉ số này tỉ lệ thuận với tổng lượng đường trong máu.

 

Chỉ số HbA1C có giá trị đánh giá nồng độ đường máu trung bình trong vòng 2 - 3 tháng trước đó. Khi chỉ số HbA1c càng cao thì nguy cơ phát triển các biến chứng của bệnh tiểu đường càng lớn, có thể gây nguy hại cho tim, mạch máu, thận, bàn chân và mắt.

 

Mức đường huyết cần phải được kiểm soát tốt theo thời gian. Xét nghiệm HbA1C khác với kiểm tra đường huyết tại nhà mỗi ngày. Theo khuyến cáo, người có chỉ số đường huyết không ổn định thì nên kiểm tra chỉ số HbA1C bên cạnh chỉ số Glucose máu tối thiểu là 3 - 4 lần trong một năm.

 

Người bị ĐTĐ cần phải kiểm soát tốt cả đường máu lúc đói và đường máu sau ăn thì mới mong đạt được mức HbA1C theo khuyến cáo của Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ (ADA) dưới 7%. Nếu để HbA1C tăng lên 1% thì nguy cơ bệnh tim mạch tăng lên 11%.

 

 

B (Blood pressure) là huyết áp

 

Huyết áp (HA) là lực ép của máu lên thành mạch máu. Ở người khỏe mạnh, HA 140/90 được xem là bình thường. Nhưng khi HA tâm thu có chỉ số từ 140mmHg trở lên, hoặc HA tâm trương có chỉ số lớn hơn hoặc bằng 90mmHg thì sẽ được chẩn đoán là mắc bệnh cao HA.

 

HA cao thì tim càng phải hoạt động mạnh để bơm máu vào các mạch máu. HA cao và cao kéo dài làm tăng nguy cơ phát triển bệnh liên quan đến tiểu đường, có thể dẫn đến đau tim, suy tim, đột quỵ, bệnh võng mạc, thậm chí có thể gây mù lòa và bệnh thận.

 

Chỉ số HA sẽ biến đổi theo mỗi năm. Một điều mà không phải ai cũng biết được là bệnh cao HA không chỉ gặp ở những người cao tuổi, mà cả những người trẻ tuổi thậm chí là trẻ nhỏ. Đặc biệt đối với người bị ĐTĐ nên tự kiểm tra và theo dõi HA tại nhà, ghi lại các chỉ số và tham khảo ý kiến bác sĩ. Theo khuyến cáo từ nhiều năm nay về mức HA cho người bệnh ĐTĐ là dưới 130/80 mmHg, tốt nhất là 120/70 mmHg.


 

C (Cholesterol) là mỡ máu


Khi xét nghiệm mỡ máu, có 4 chỉ số quan trọng cần được quan tâm, đó là: cholesterol toàn phần, LDL-cholesterol (LDLc), HDL-cholesterol (HDLc) và triglyceride.


LDLc là cholesterol “xấu”, khi tích tụ dư thừa sẽ gây nguy hại cho cơ thể và làm tắc mạch máu, gây xơ vữa các mạch máu và dẫn tới các bệnh tim. HDLc là một dạng cholesterol “tốt” có lợi cho cơ thể. Chống lại quá trình xơ mỡ động mạch bằng cách loại bỏ cholesterol “xấu” dư thừa ứ đọng từ trong thành mạch máu trở về gan, có tác dụng bảo vệ tim mạch.


Triglycerid cũng là một loại mỡ có hại cho tim. Theo khuyến cáo của Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ (ADA) mục tiêu cần đạt được về mỡ máu ở người bệnh ĐTĐ : LDLc dưới 2,6 mmol/l; HDLc trên 1,0 mmol/l (nam), trên 1,25 mmol/l (nữ); Triglyceride dưới 1,7 mmol/l. Nếu để LDLc tăng lên 1 mmol/l thì nguy cơ bị bệnh động mạch vành tăng lên 57%. 

 

Hầu hết các nghiên cứu cho thấy người bị ĐTĐ thường có mỡ máu tăng cao (rối loạn lipid máu), mỡ máu cao ở người bị ĐTĐ làm tăng nguy cơ tử vong do đột quỵ và bệnh lý tim mạch. Việc kiểm soát tốt mỡ máu xấu ở người bị ĐTĐ được coi là chìa khóa then chốt giúp phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm. Do đó người bị ĐTĐ cần giữ mức mỡ máu thấp hơn bình thường và thậm chí thấp hơn nữa khi có biến chứng tim mạch.


Bệnh viện An Sinh